Chủ Nhật, 19 tháng 7, 2009

Mô hình S.O.H.O. - small office home office

Trong thời buổi tấc đất tấc vàng, cái nhà kho kiêm chỗ để xe trong ngôi biệt thự cũ của một gia đình và một… vườn trẻ nằm ở góc con đường nhỏ đã được tận dụng làm nên một văn phòng kiến trúc tại nhà. Nhỏ nhắn đấy nhưng văn phòng vẫn đẹp và không kém phần tiện tích.

Nơi làm việc tiếp cận bên ngoài qua một khoảng sân nhỏ, bên trên là vườn treo với giàn hoa bằng sắt hộp sơn trắng còn có chức năng bảo vệ từ bên trên. Cổng vào thân thiện và khá độc đáo với mảng tường ốp gạch trần recycle đã trên 70 năm tháo dỡ từ bức tường rào của ngôi nhà cũ.

Lối vào văn phòng với bậc tam cấp đen tuyền được nhấn nhá nhẹ nhàng bằng mảng tường đơn với chất liệu đá xám thô nhám làm phông cho những nhánh trúc xanh thanh thoát và “nhấp nhô những vạt nắng chiều”. Người kiến trúc sư tâm sự rằng ngoài cảm xúc đẹp về một chất liệu thô mộc, nó còn nhắc nhở về quá khứ - một di sản của ông bà để lại cho con cháu.

Nội thất gọn và xinh mang tinh thần tối giản với màu trắng nhẹ tênh của trần, tường và nền sơn epoxy như một studio nhiếp ảnh. Tương phản lại là những thiết bị nội thất màu đen mờ, nâu sẫm điểm xuyết đỏ... rất ăn ý với chiếc ghế nhựa hi-tech trong suốt, đầy hơi thở đương đại.

Tinh thần S.O.H.O. rất rõ qua một góc “bay window” (cửa sổ mở góc có bệ ngồi) nhìn ra vườn treo - chỗ ưa thích nhất của kiến trúc sư nọ lúc tìm ý tưởng cho một công trình mới, hoặc thả hồn theo những trang sách kiến trúc nước ngoài cùng khúc dạo piano của Giovanni…

Mặc dù là một văn phòng tại gia khá nhỏ, nhưng ở đây vẫn có không gian riêng cho các cộng sự. Các module làm việc lắp ghép bằng ván MFC triệt để tiết kiệm (ván thừa của cấu kiện lớn là nguyên liệu của cấu kiện nhỏ hơn) vừa “tương kế tựu kế” tạo ra những nhịp điệu tam giác một cách tinh tế tượng trưng cho cây thước ê-ke của dân kiến trúc. Trên một mảng tường lớn, “những đứa con tinh thần” được trưng bày giản dị nhưng linh hoạt, dễ dàng thay đổi nội dung theo các sợi cáp treo dọc tường.

Trong thời buổi “mở mắt thấy tắc đường” thì văn phòng tại gia ngày càng hữu dụng cho những ngành nghề tự do, cần nhiều tính sáng tạo như kiến trúc. Điều quan trọng là “được thêm thời gian chăm sóc gia đình và có thể sáng tác khi những ý tưởng ghé thăm bất chợt” - như lời tâm sự của nhà thiết kế.

Bài: TƯỜNG VI - Ảnh: ĐỨC TRÍ
Theo Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần

Thứ Ba, 14 tháng 7, 2009

Giới thiệu phương pháp bơm hút chân không gia cố nền đất yếu

Giảm 30% giá thành, giảm 50% thời gian thi công. Đó là khẳng định của các chuyên gia Trung Quốc trong công nghệ mới về đầm nén xử lý nền đất bằng phương pháp chân không trong buổi hội thảo do Sở Xây dựng TP.HCM tổ chức.

Hiện nay có rất nhiều phương pháp để gia cố nền đất yếu như: dùng đệm cát, cọc cát, trụ vật liệu rời thoát nước thẳng đứng, trụ đất-xi măng, bấc thấm… Tuy nhiên, bơm hút chân không là một phương pháp gia cố nền đất sét yếu, dùng công nghệ bơm hút chân không để hút nước trong đất làm cho đất cố kết nhanh chỉ trong thời gian ngắn. Đây là phát minh của ông Từ Sĩ Long - Chủ tịch HĐQT Cty CP Cảng Loan Tân Hải (nhiều người ưu ái gọi ông là “người biến bùn thành bão, biến đất thành vàng”)… So với phương pháp xử lý nền đất thông thường thì công nghệ hút chân không có nhiều ưu điểm vượt trội như tiết kiện được 30% giá thành xây dựng, rút ngắn 50% thời gian thi công… Công nghệ này được thực hiện nhanh thông qua vài lần làm áp lực bằng chân không kết hợp với số lần biến đổi năng lượng thích hợp để đóng nền từ đó hạ thấp tỷ lệ chứa nước trong đất, nâng cao mật độ đất, sức tải của nền, giảm sự sụt lún sau khi thi công và sự sụt lún sai khác ở nền đất yếu. Theo các chuyên gia trong lĩnh vực xử lý nền đất thì phương pháp này sẽ tạo ra được một áp lực (trên 1 atmosphere) khống chế sức tải của mặt đất, tạo độ dày cần thiết theo yêu cầu kỹ thuật, khống chế được độ lún và tạo độ lún đồng đều cho mặt đất. Công nghệ này đã được Uỷ ban Khoa học Thượng Hải (Trung Quốc) giám định “đạt tiêu chuẩn tiên tiến quốc tế”, hiện đang được áp dụng tại nhiều công trình xây dựng cảng biển, đường bộ và đường hàng không, được nhiều quốc gia đón nhận trong đó có Việt Nam.

Bốn đặc điểm vượt trội của công nghệ hút chân không so với các phương pháp thông thường đó là: tốc độ nhanh, thời gian thi công ngắn; chi phí thi công chỉ bằng 30 - 50%; có thể kiểm soát được chất lượng căn cứ vào các điều kiện địa chất khác nhau để thiết kế nên các thông số thi công phù hợp; thi công đảm bảo vệ sinh môi trường. Tại Trung Quốc, công trình sửa chữa, mở rộng đường băng số 2 Sân bay Quốc tế Phố Đông Thượng Hải (ảnh bên) là một phương án “sân bay hướng ra đại dương”. Sau khi sử dụng công nghệ này không chỉ giải quyết được vấn đề lún sâu của nền đất trên bờ biển mà còn tiết kiệm được cả nhiệu triệu đo-la Mỹ tiền vốn đầu tư. Hơn nữa chất lượng công trình được các chuyên gia đánh giá “tốt nhất, vượt xa yêu cầu thiết kế”. Công trình Cảng Tân Thành khi sử dụng công nghệ mới này đã tiết kiệm được 360 triệu nhân dân tệ. Ngoài ra còn nhiều công trình khác như: công trình xử lý nền đất ở cảng Tam Kỳ, Ninh Ba, Chiết Giang (Trung Quốc) cũng dùng công nghệ hút chân không, tiết kiệm được 73 triệu nhân dân tệ. Trong gần 3 năm riêng khu vực Thượng Hải đã tiết kiệm được 1 tỷ nhân dân tệ khi sử dụng phương pháp này.

Việc đưa ra một số các biện pháp xử lý nền đất yếu mới góp phần làm phong phú các phương pháp xử lý nền móng trong công tác xây dựng ở nhiều vùng địa hình có địa chất yếu từ đó có cơ sở để lựa chọn những biện pháp tối ưu để áp dụng cho các công trình. Ở Việt Nam hiện công trình nhà máy Khí - Điện Cà Mau đã sử dụng công nghệ này.

Khung thay thế tường chịu lực

Với sự phát triển kỹ thuật xây dựng bằng thép và bê tông cốt thép, tường không còn là phần chịu lực chính của công trình. Toàn bộ tải trọng của mái và sàn nhà được truyền vào hệ thống đà, cột và chuyển xuống móng. Khi đó, tường chỉ còn công dụng ngăn chia và bao bọc.

Khi đó, tường không còn bị giới hạn bởi các yếu tố bề dày, vật liệu, cách bố trí và các khoảng trống bị hạn chế như với tường chịu lực. Nhiều người gọi là khung chịu lực và tường xây chèn. Cửa đi, cửa sổ và các khoảng trống khác trên tường được mở rộng tối đa theo cả hai phương đứng và ngang. Mặt bằng bố trí tường hoàn toàn tự do và không bị ràng buộc bởi vật liệu.

  • Ảnh bên : Trường trung học Victorian ở Melbourne.
Việc ra đời của cấu trúc nhà khung chịu lực đã giải phóng hệ thống tường theo phương thức cổ điển, tạo nên một cuộc cách mạng trong kiến trúc. Trường phái kiến trúc hiện đại (modernism) ra đời với cấu trúc điển hình này, đã làm thay đổi toàn bộ diện mạo kiến trúc công trình trong suốt thế kỷ 19 và kéo dài đến nay. Tuy nhiên ở Việt Nam, trong lĩnh vực kiến trúc - xây dựng, việc áp dụng hệ khung chịu lực một cách phổ biến mới chỉ gần đây, rất chậm so với thế giới.

Cấu trúc khung chịu lực thay thế tường chịu lực đã tạo nên các không gian nội thất vô cùng linh hoạt. Tường ngăn chia được bố trí rất tự do và hoàn toàn có thể thay đổi vị trí theo yêu cầu. Tại các nước tiên tiến, tường ngăn chia thường không được xây bằng gạch như ở Việt Nam, vì các nhược điểm: tốc độ xây dựng chậm, tải trọng bản thân lớn, khó thay đổi theo yêu cầu và rất phiền phức khi thực hiện (gạch, cát, xi măng...) nhất là trong các tòa nhà công cộng đang được sử dụng. Tường ngăn chia có thể cố định hoặc di động theo các thanh ray, vật liệu rất đa dạng tùy theo ý đồ của người thiết kế.

Tường bao che tuy hiện nay không phải là tường chịu lực, nhưng vẫn phải được cấu tạo bằng loại vật liệu "chịu lực" lớn do yếu tố an toàn. Tường bao che còn phải có được tính cách nhiệt, cách âm tốt.

Tường bao che bằng gạch thường phải dày, nhiều trường hợp phải có lớp cách nhiệt ở giữa. Vật liệu hoàn thiện cho tường gạch phải có tính chống thấm nước, chịu được tác động của nắng, gió và phải có độ co giãn cao để tránh rạn nứt.
  • Ảnh bên : London City Hall
Kính dùng cho tường bao che phải là kính cường lực có khả năng chịu va đập cao gấp nhiều lần kính bình thường, có hệ số phản xạ nhiệt lớn. Nhiều lúc người ta phải sử dụng kính hai lớp, có khoảng trống ở giữa làm tăng tính cách âm và cách nhiệt cho công trình. Để tăng hiệu quả trong suốt, người ta có thể thực hiện những mảng tường rất lớn bằng kính và có cảm giác không có khung chịu lực. Hiện nay ở Việt Nam, nhiều người thiết kế áp dụng kiểu mặt đứng "curtain wall" cho công trình và quả thật là "đại nạn" cho người sử dụng nếu không dùng kính và khung chịu lực đúng tiêu chuẩn.

Tường ngăn chia ở Việt Nam thường được xây bằng gạch, hoàn thiện bằng sơn nước hoặc các loại vật liệu trang trí. Ở các nước tiên tiến, tường ngăn chia thường bằng thạch cao, gỗ, kính hoặc cả đá tự nhiên... và được lắp ráp trên khung chịu lực bằng kim loại nhẹ. Trong một số trường hợp, tường ngăn chia còn là các tấm di động trên đường ray để tăng khả năng linh hoạt của không gian nội thất.

Do có một vị trí áp đảo trong mỗi công trình nên tường thường được trang điểm bằng nhiều loại vật liệu. Thông thường, người ta hay sử dụng sơn nước. Tuy nhiên, cũng có những vật liệu trang điểm thông dụng khác như gạch ceramic, đá tự nhiên, gỗ, nhôm, thép, kính...
Ngôi nhà kính (Glass House) của Philip Johnson

Tấm EVG - vật liệu cho nhà cao tầng



EVG-3D panel là loại vật liệu xây dựng có kết cấu vỏ ba chiều, lõi cốt thép cường độ cao, tiết diện rỗng (hai lớp). Lớp polystyrene ở giữa có tác dụng cách âm, cách nhiệt, đóng vai trò cốp pha để làm khuôn lót cho hai lớp vữa bê tông ở hai bên. Kỹ thuật phun vữa hoặc bê tông mini tại chỗ tạo ra khối kết cấu có tính toàn khối cao.

EVG 3D panel có xuất xứ công nghệ từ Cộng hòa Áo, do hãng Entwicklings und Verwertungs Gesellschaft M.B.H (EVG) làm chủ phát minh và sản xuất từ giữa thập niên 80 của thế kỷ trước. EVG đã được đăng ký bản quyền công nghệ ở các nước tiên tiến như Tây Âu, Mỹ, Nhật Bản.

Theo các chuyên gia ngành xây dựng, sở dĩ sản phẩm EVG 3D panel được quan tâm sử dụng là do có nhiều ưu điểm cơ bản, như đạt các chuẩn xây dựng quốc tế ACI (Mỹ), DIN (Đức), BS (Anh)... Công trình sử dụng kết cấu 3D chống được gió bão hơn 360 km/h; chịu được động đất đến 7,5 độ richter; cách âm, cách nhiệt và chống cháy tốt. Điều này đã được kiểm chứng bởi các thử nghiệm do Viện nghiên cứu thử nghiệm hàng không Áo, Viện kiểm soát chất lượng Singapore, Cơ quan kiểm định Mỹ.

Hàng loạt công trình được thực hiện bằng EVG 3D panel trên khắp thế giới, trong đó có từ nhà ở, trường học, nhà thờ, chùa, đến cả khách sạn 5 sao Hyatt, các trung tâm thương mại, chung cư cao đến trên 30 tầng ở Mỹ, Đài Loan, Philippines và khoảng 40 nước khác.

Tại Việt Nam, các sản phẩm EVG 3D-Panels đã được Viện khoa học công nghệ xây dựng đã thí nghiệm và cho thấy khả năng chịu tải của các tấm panels EVG 3D rất cao, vượt trội hoàn toàn so với các loại vật liệu xây dựng truyền thống khác. Cụ thể, vật liệu này chịu được tải trọng đến 70 tấn/m dài, trong khi tường xây 220 chỉ đạt 20 tấn/m dài, nghĩa là khả năng chịu lực của EVG 3D gấp 3,5 lần so với tường gạch 220.

Nhiều chuyên gia kỹ thuật và nhà khoa học cũng xác nhận: EVG tạo nên một công nghệ xây dựng mới, tiết kiệm nguyên vật liệu (nhất là gỗ và đất) vì gần như hoàn toàn không sử dụng đến cốp pha, không dùng gạch đất nung. Điều này góp phần bảo vệ môi trường sinh thái. Các công trình xây dựng dùng EVG 3D-panel rất dễ tạo dáng kiến trúc, phù hợp với những thiết kế phức tạp như biệt thự, nhà nghỉ mát, nhà thi đấu thể thao... Đáng chú ý nhất là vật liệu EVG 3D-panel có thể được dùng là vật liệu duy nhất (tất nhiên vẫn có vữa và xi măng) để tạo nên một ngôi nhà, nghĩa là có thể sử dụng làm tường, làm sàn, và cả làm mái. Chính ưu điểm này làm giản tiện đến mức cao nhất việc chuẩn bị vật liệu xây dựng cho cả chủ đầu tư và nhà thầu xây dựng.


Nguồn: DOOL

Thứ Hai, 13 tháng 7, 2009

BubbleDeck - Công nghệ sàn mang tính cách mạng trong xây dựng

Hiện nay trên thế giới có rất nhiều công nghệ sàn, mỗi công nghệ đều có những ưu và nhược điểm riêng. BubbleDeck là công nghệ sàn mới, rất thành công tại Châu Âu từ những năm đầu thành lập.

Trong 7 năm qua, tại Đan Mạch và Hà Lan, hơn 1 triệu m2 sàn sử dụng công nghệ BubbleDeck đã được thi công, ứng dụng cho tất cả các tòa nhà cao tầng bao gồm văn phòng, bệnh viện, trường học, nhà ở, nhà để xe và các công trình công cộng khác.



BubbleDeck là một công nghệ thi công sàn bê tông cốt thép mang tính cách mạng trong xây dựng khi sử dụng những quả bóng bằng nhựa tái chế để thay thế phần bê tông không tham gia chịu lực ở thớ giữa của bản sàn, làm giảm đáng kể trọng lượng bản thân kết cấu và tăng khả năng vượt nhịp lên khoảng 50%.

Bản sàn BubbleDeck phẳng, không dầm, liên kết trực tiếp với hệ cột, vách chịu lực, có nhiều ưu điểm về mặt kỹ thuật và kinh tế, cụ thể: Tạo tính linh hoạt cao trong thiết kế, có khả năng áp dụng cho nhiều loại mặt bằng công trình; Giảm tới 35% trọng lượng bản thân kết cấu, từ đó giảm kích thước hệ kết cấu cột, vách, móng; Tăng khoảng cách lưới cột, giảm hệ tường, vách chịu lực; Giảm thời gian thi công và các chi phí dịch vụ kèm theo; Tiết kiệm khối lượng bê tông thi công: 2,3kg nhựa tái chế thay thế cho 230kg bê tông/m (BD 280) và rất thân thiện với môi trường khi giảm lượng phát thải năng lượng và khí C02(khí nhà kính).

Các cấu kiện rộng 2,4m tạo nên một phần bản sàn tổng thể được sản xuất dưới dạng cấu kiện đúc sẵn bán toàn khối bao gồm lưới thép dưới và lớp bê tông đúc sẵn dày 60mm, hình thành hệ ván khuôn vĩnh cửu cho bản sàn. Các sườn tăng cứng có tác dụng cố định 2 lưới thép trên và dưới, định vị các quả bóng nhựa đúng vị trí cũng như tăng cường độ cứng dọc cho tấm sàn trong quá trình lắp dựng.

Sau khi cấu kiện bán toàn khối được đặt vào vị trí và được đỡ tạm thời bằng hệ giáo thi công, các cấu kiện sẽ được liên kết lại với nhau bằng cốt thép rời đặt giữa các quả bóng nhựa trên lớp bê tông đúc sẵn và lưới thép trên.

Quá trình đổ bê tông và dưỡng hộ tại công trường sẽ làm "biến mất" mối nối giữa các cấu kiện, do đó tạo ra được một sản phẩm hoàn thiện, đảm bảo độ ổn định và bền vững, có khả năng chịu lửa, cách âm tốt và chống tại các tác động có hại của thời tiết.

BubbleDeck là công nghệ thi công tấm sàn phẳng, rỗng theo hai phương không dầm, ít cột, thi công không cần ván khuôn và có khẩu độ vượt nhịp lớn. Sàn BubbleDeck rất linh hoạt trong thiết kế kiến trúc, có tính cách âm, cách nhiệt tốt và khả năng chống cháy nổ, giảm tác dụng động đất vượt trội.

Với công nghệ BubbleDeck, việc thi công tấm sàn có thể tiết kiệm tới 50% lượng bê tông so với sàn truyền thống, giảm thời gian lắp dựng mỗi sàn xuống 5 đến 7 ngày, giảm tải trọng bản thân tấm sàn cũng như tải trọng lên phần móng công trình và góp phần tích cực vào công tác bảo vệ môi trường. Với những tiến bộ trên, công nghệ BubbleDeck đã được cấp chứng nhận đạt Tiêu chuẩn Xây dựng Châu Âu.





Thi công công nghệ sàn BubbleDeck. Ảnh: BBD.

Đặc điểm nổi bật của BubbleDeck là khả năng chịu lực. Một tấm sàn đặc gặp rất nhiều vấn đề khi phải vượt nhịp lớn do ảnh hưởng của trọng lượng bản thân. BubbleDeck đã giả quyết vấn đề này khi giảm 35% lượng bê tông trong tấm sàn nhưng vẫn đảm bảo khả năng chịu lực tương ứng.

Vì vậy, khi có cùng khả năng chịu lực, 1 tấm sàn BubbleDeck chỉ cần sử dụng 50% lượng bê tông so với một tấm sàn đặc, hoặc cùng độ dày tấm sàn BubbleDeck có khả năng chịu tải gấp đôi sàn đặc nhưng chỉ tiêu thụ 65% lượng bê tông. BubbleDeck có khả năng chịu lực cắt xấp xỉ 65% khả năng của sàn đặc với cùng chiều cao. Trong tính toán thường sử dụng hệ số 0.6 để thể hiện mối tương quan này. Trong những vùng chịu lực phức tạp(khu vực quanh cột, vách, lõi), có thể bỏ bớt các quả bóng để tăng khả năng chịu lực cắt cho bản sàn.

Khả năng chịu động đất cũng là một trong những ưu điểm của BubbleDeck. Lực động đất tác động lên công trình có giá trị tỉ lệ với khối lượng toàn công trình và khối lượng tương ứng ở từng cao độ sàn. BubbleDeck, tấm sàn phẳng chịu lực theo hai phương, với ưu điểm giảm nhẹ trọng lượng bản thân, khi kết hợp với hệ cột và vách chịu lực sẽ trở thành một giải pháp hiệu quả chống động đất cho các công trình cao tầng.

Bên cạnh đó là khả năng vượt nhịp của BubbleDeck. Quá trình xác định nhịp lớn nhất mà tấm sàn BubbleDeck có thể vượt qua dựa trên tiêu chuẩn British Standard 8110 và EuroCode 2, có bổ sung hệ số 1.5 để kể đến việc giảm nhẹ bản thân sàn so với sàn đặc truyền thống. Tỉ số giữa nhịp/chiều cao tính toán của tấm sàn L/d ≤ 30 đối với sàn đơn, L/d ≤ 39 đối với sàn liên tục, L/d ≤ 10.5 đối với sàn ngàm một phương.





Cấu tạo sàn BubbleDeck. Ảnh: BBD

Ngoài ra, khi cần vượt nhịp lớn (trên 15m), có thể sử dụng giải pháp BubbleDeck ứng lực trước, thực hiện căng sau(PT). Khi vượt nhịp lớn, tấm sàn BubbleDeck thông thường sẽ không gặp khó khăn về khả năng chịu lực nhưng cần hạn chế về độ võng lớn, vì vậy phải thực hiện giải pháp PT.

BubbleDeck International vừa hoàn thành 32,000m2 sàn khu vực phát thanh và truyền hình cho trung tâm truyền thông Đan Mạch với kết cấu sàn ứng lực trước căng sau dày 390mm, khẩu độ vượt nhịp trên 16m. Các dây cáp ứng lực trước đặt cách nhau 3m cũng được chôn dễ dàng vào khe hở giữa các quả bóng của tấm sàn.

Với các đặc điểm kỹ thuật vượt trội của mình, BubbleDeck, hệ sàn phẳng nhẹ duy nhất được chính thức công nhận tại nhiều quốc gia, đã được cấp Chứng nhận Kỹ thuật Hà Lan CUR 86, có giá trị tương đương với Chứng nhận của Tiêu chuẩn Xây dựng. BubbleDeck đã có mặt tại Việt Nam với tên giao dịch BubbleDeck Vietnam Joint Venture Company, trụ sở đặt tại 95 Bùi Thị Xuân, Hai Bà Trưng, Hà Nội.


Theo website Bộ Xây dựng

Mặt trái của các khu đô thị mới ở Hà Nội




Trong thời gian qua, các khu đô thị mới ở Hà Nội như Định Công, Linh Đàm… được coi như mô hình kiểu mẫu về môi trường sống hiện đại, tiện nghi; tương phản với hình ảnh các khu chung cư đã xuống cấp hoặc các khu phố cổ, phố cũ chật hẹp và tối tăm ẩm thấp.

Sau một vài mô hình thí điểm thành công, ở Hà Nội đã mọc lên hàng loạt các dự án khu đô thị mới với nhiều loại hình, quy mô và tính chất khác nhau. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm đã được thành phố thừa nhận về không gian sống, môi trường trong sạch và hạ tầng tương đối hoàn chỉnh, các khu đô thị mới cũng bộc lộ nhiều hạn chế, mặt trái, đặc biệt về mặt văn hóa – xã hội và những vấn đề bức xúc cần có hướng giải quyết.

Hệ thống các công trình dịch vụ công cộng không đáp ứng được nhu cầu của người dân

TS.KTS Lương Tú Quyên và TS.KTS Đỗ Thị Kim Thành – Khoa Quy hoạch Đô thị Nông thôn, Đại học Kiến trúc Hà Nội cho biết: Trong thực tế, nhiều khu dân cư cũ bị xóa bỏ để giải phóng mặt bằng lấy đất xây dựng khu đô thị mới, nhưng qua một thời gian sống, các khu đô thị mới lại không hơn được khu ở cũ của người dân. Theo đó, dọn về khu ở mới chưa được bao lâu, các cư dân phải đối mặt với hàng loạt các khó khăn về phí dịch vụ cao, về thiếu các không gian cây xanh, không gian giao tiếp công cộng.


Bên cạnh đó, các vấn đề nảy sinh trong các loại khu đô thị mới khác nhau cũng rất khác nhau. Các khu đô thị cao cấp xây dựng theo kiểu phương Tây, du nhập vào bởi các chủ đầu tư ngoại quốc từ Tây Âu, Hàn Quốc, Inđônêxia… không gian ngăn nắp, quy củ đến cứng nhắc này, được cho là không phù hợp với lối sống của người dân Hà Nội. Hàng rào quanh khu đô thị tưởng chừng để tạo sự an toàn cho người dân nhưng thực tế nó không ngăn chặn được trộm cắp mà ngược lại, nó còn là sự thu hút của các đối tượng tội phạm. Hơn thế nữa, tường bao và người gác cổng tạo thành sự ngăn cách giữa khu đô thị cao cấp với cộng đồng dân cư xung quanh, gây khó khăn, tạo tâm lý ngại ra vào cho chính khách khứa, bạn bè và người thân mỗi khi nhà có công việc hiếu hỉ, tiệc tùng.


Hơn thế nữa, đa phần các khu đô thị mới được xây dựng tại các khu vực ngoại ô của thành phố Hà Nội trước khi mở rộng, ít nhiều đều lấy đất canh tác, hoặc đất thổ cư của nông dân, “ngạo nghễ” tồn tại bên cạnh các làng xóm cũ, tạo thành sự tương phản trong không gian giữa hai khu vực, làm cho mâu thuẫn giàu nghèo càng trở nên sâu sắc.

Hơn nữa, hệ thống các công trình dịch vụ công cộng trong các khu đô thị mới phần lớn đều không đáp ứng được nhu cầu của người dân. Một vài siêu thị, cửa hàng tự chọn với hàng hóa nhu yếu phẩm, đồ đông lạnh và đồ hộp không cung cấp được thực phẩm và yêu cầu mua bán giá rẻ. Ví như ở khu đô thị mới Mỹ Đình I và II, không có chợ rau quả - thực phẩm tươi sống, người dân phải lặn lội gần 3km để đi chợ Đồng Xa ở khu vực Mai Dịch. Nhận thấy nhu cầu lớn của người dân khu đô thị mới Mỹ Đình I và II, nhiều người dân ở các làng xung quanh, đi buôn cá tươi, rau xanh về bán… hình thành nên chợ cóc trên vỉa hè, gây mất mỹ quan cho khu đô thị. Lực lượng an ninh, trật tự của xã Mỹ Đình đã nhiều lần ra tay dẹp bỏ các chợ cóc, chợ tạm này nhưng do nhu cầu tự phát của người dân nên khi lực lượng an ninh, trật tự đi khỏi, chợ cóc lại mọc lên.

Bên cạnh đó, ở các khu đô thị mới, bể bơi, sân tennis, nhà trẻ, mẫu giáo, bãi đỗ xe…thường bị quá tải so với yêu cầu thực tế. Vì vậy, cư dân các khu đô thị mới nhiều khi phải tìm kiếm các dịch vụ ở bên ngoài.

Hay ở khu đô thị mới Dịch Vọng, Cầu Giấy, dường như đã bị Công ty môi trường đô thị Hà Nội “bỏ quên” vì hàng núi rác được người dân xả ra hàng ngày không có người thu dọn và Ban quản lý khu đô thị cũng chưa có trách nhiệm giải quyết vấn đề này.

Cần một hệ thống các công trình hạ tầng xã hội đa dạng và có quy mô hợp lý

Nhìn chung, các khu đô thị mới có quy mô lớn, xây dựng độc lập, hệ thống công trình hạ tầng xã hội đa dạng và hoàn thiện hơn về loại hình, đối tượng và thời gian phục vụ so với các khu đô thị mới quy mô trung bình và nhỏ, nằm xen kẽ ven đô. Các khu đô thị phục vụ mục đích tái định cư, cung cấp nhà ở xã hội do giá thành xây dựng rẻ nên hầu như thiếu các công trình dịch vụ công công, trang thiết bị tiện ích đô thị.

Mặt khác, không gian xanh trong các khu đô thị mới cũng là một vấn đề cần được quan tâm. Trong các bản vẽ quy hoạch, do lợi nhuận, mật độ xây dựng thường được đẩy lên cao tối đa, ưu tiên nhà ở và thương mại dịch vụ, cắt giảm những diện tích để làm vườn hoa, công viên, sân bãi thể dục, thể thao. Nhưng không gian xanh ít ỏi còn lại cũng không được tổ chức và chăm sóc một cách đúng đắn. Không quy hoạch thành một hệ thống các không gian xanh từ các bồn hoa, cây xanh đường phố, vườn hoa cho đến các công viên vừa và nhỏ để phục vụ nhu cầu giao tiếp, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí cho người già và trẻ em và cư dân khu đô thị sau ngày làm việc. Trong các vườn hoa, cây xanh hiếm hoi của khu đô thị, những loại cây ngoại nhập như cau vua, chuối giẻ quạt, cỏ Nhật… được trồng tràn lan, bỏ qua điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng cũng như cảnh quan đô thị truyền thống.

Theo TS.KTS Lương Tú Quyên và TS.KTS Đỗ Thị Kim Thành, để đảm bảo cuộc sống cho người dân, hệ thống các công trình hạ tầng xã hội trong các khu đô thị mới phải hoàn chỉnh và đồng bộ, bao gồm nhà ở, các công trình chăm sóc sức khỏe, hệ thống giáo dục, công trình văn hóa xã hội (các câu lạc bộ, các trung tâm vui chơi giải trí), các công trình thương mại dịch vụ (cửa hàng, hệ thống siêu thị), các không gian xanh (vườn hoa, công viên…)… đáp ứng nhu cầu của người dân hàng ngày, theo mùa, hay theo khoảng thời gian rảnh rỗi của người dân trong khu vực.

Thành phần dân cư đa dạng đòi hỏi các công trình hạ tầng xã hội cần phải đa dạng và có quy mô hợp lý, có các hệ thống dịch vụ đặc biệt cho những nhóm người khác nhau. Hơn nữa, về tổ chức không gian, thực tế cho thấy các khu đô thị có hình thức khép kín sẽ ngày càng trở nên không phù hợp. Một mô hình mở, kết nối thuận tiện với xung quanh về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, hình ảnh không gian liên tục và thân thiện, tăng cường các diện tích cây xanh và không gian giao tiếp cho cư dân là mô hình lý tưởng cho sự lựa chọn của những người dân về cuộc sống trong tương lai.

Hà Nội đã hình thành được nhiều khu đô thị mới, nhưng còn phải hoàn thiện hơn nữa để thực sự nâng cao chất lượng đời sống vật chất – tinh thần của người dân, nâng cao chất lượng đô thị đang hướng đến Đại lễ tròn một ngàn năm tuổi.

Theo HNMO

Các hình thức mái nhà Việt Nam




Trong công trình kiến trúc có 3 phần rõ rệt: đế nhà, thân nhà và mái nhà. Mái nhà là bộ phận không thể thiếu đối với công trình kiến trúc với chức năng chính là che mưa, nắng, bảo vệ không gian của ngôi nhà.

Gắn với mái nhà là các vật liệu mái, trong đó vật liệu lợp mái đóng vai trò quyết định tới độ dốc của mái nhà. Nếu mái nhà làm bằng tranh tre, nứa lá có độ dốc 33 – 450; Mái nhà Rông (Tây Nguyên) với phần mái nhọn cao vút có độ dốc lớn tới 70 – 800. Mái nhà dân gian thường lợp ngói có độ dốc 30 - 33 độ. Các mái lợp firo xi măng có độ dốc mái 18 - 200, mái lợp tôn có độ dốc 12 - 150. Với từng vật liệu, mục đích chọn các độ dốc nhằm đảm bảo thoát nước, gắn mái phù hợp với hình thức của nó. Hệ thống vì kèo của mái cũng tương ứng với từng loại vật liệu. Nếu mái nhà được lợp bằng tranh tre nứa tương ứng với vì kèo tre, nhà mái ngói tương ứng với vì kèo gỗ, mái tôn thường làm vì kèo thép…

Ngoài vấn đề độ dốc, các hình thức trang trí bờ nóc đầu đao có vai trò tạo ra các hình thức mái. Hình thức mái được lồng ghép vào các biểu tượng, mái đình, bao giờ cũng có trang trí bờ nóc, lưỡng long chầu nguyệt. Ngoài trang trí trên bờ nóc, trang trí dưới mái bao gồm phần hiên vây xung quanh nhà, trang trí bên trong vì kèo.




Mái không gian lớn


Các trang trí của vì kèo nói lên ý nghĩa, mức độ sang trọng của công trình, thể hiện tính văn hóa của công trình. Tại mỗi thời kỳ, tính văn hóa “ mái nhà” có những nét khác nhau.

Những hệ thống vì kèo trang trí trong các cung điện, đình chùa nhà Nguyễn đã tạo thành những nét đặc trưng, khác so với thời kỳ trước. Lịch sử kiến trúc đã có sự phân tích khá rõ vấn đề này. ấn tượng về mái cũng là nét nhận diện ra kiến trúc truyền thống của từng dân tộc, từng quốc gia. Vì vậy, mái đình chùa được coi là mái tiêu biểu cho kiến trúc truyền thống. Do đó mái của các công trình kiến trúc cổ của Việt Nam khác so với hệ thống mái đình chùa của Thái Lan, Lào… ở đây khác về độ dốc mái, các lớp mái, cách xử lý các chi tiết hoa văn trang trí, kết cấu đỡ mái.

Tuy nhiên, một đặc trưng khác với mái của các công trình kiến trúc Pháp, trong kiến trúc Việt Nam phần cửa sổ mái không có. Giải pháp thông gió và lấy ánh sáng được

giải quyết nhờ các khe mái ( gọi là mái Cổ Diêm). Đặc trưng này dễ dàng nhận thấy ở mái chùa Tây Phương, mái của các công trình kiến trúc cung điện…

Nhà ở dân gian trước đây với các mái nhà dân gian truyền thống có 2 mái hoặc 4 mái, trong đó nhà 2 mái là chính. Đặc trưng nhất của mái nhà dân gian là hệ thống vì kèo gỗ của mái nhà.




Kiến trúc mái chùa Tây Phương


Trong kiến trúc nhà công sở thời Pháp đã có sự phát triển lên nhiều hệ mái. Mái ô văng, mái hiên, bộ phận tiền sảnh cũng có thể tạo nên nhiều hệ mái. Sự tham gia của nhiều hệ mái đã tạo ra các nét kiến trúc riêng. Đặc biệt là hình thức mái từ trên, rải rác theo các tầng ở dưới. Hiện nay ở các biệt thự, sự phong phú nhất là bộ phận mái, nó phát triển với nhiều hình thức, tạo nên sự đa dạng, sức hấp dẫn, nét đặc sắc của công trình. Có rất nhiều biệt thự đã sử dụng cho các lớp mái với nhiều vật liệu khác nhau, nhiều giải pháp cấu tạo khác nhau. Mái có thể sử dụng bằng những ngói màu, trước đây phần lớn có màu đất nung truyền thống. Hiện nay màu sắc đã đa dạng hơn rất nhiều.


Tuy nhiên các hình thức mái nhà của Việt Nam hiện nay được tồn tại khá phổ biến là kiểu kiến trúc Pháp. Đâylà một quá trình du nhập, sử dụng khá phổ biến khi người Pháp sang đô hộ Việt Nam (trước năm 1954). Đặc trưng nhất của kiến trúc Pháp chính là hệ thống mái theo kiến trúc địa phương Pháp với 3 hình thức chính: mái của miền Bắc nước Pháp: mái dốc cao để chống tuyết đọng; Mái của nhà miềnTrung Pháp có độ dốc trung bình; và mái nhà của miền Nam Pháp có độ dốc thấp hơn. Đặc trưng cơ bản nhất của các loại mái này là bộ phận cửa sổ của mái để thông hơi, lấy ánh sáng cho tầng áp mái.

Hình thức nhà mái bằng hiện nay đang là loại hình phổ biến không chỉ ở các đô thị mà lan tràn về mọi ngõ ngách của nông thôn. Loại mái này được làm chủ yếu bằng bê tông và sắt thép. Mái nhà này tạo nên tính kiên cố trước gió bão và nó một phần thể hiện tính hiện đại trong tư duy của người dân. Tuy nhiên, loại hình này có thực sự hợp lý trong điều kiện khí hậu Việt Nam không, khi mà ở nông thôn người dân phải chắt chiu cả đời mới xây được ngôi nhà mái bằng, nhưng vào giữa trưa mùa hè (nắng 360) họ phải ra ngồi gốc cây vì quá nóng . Sự hấp thụ nhiệt của bê tông, độ cao nhà xây không đúng quy cách… đã tạo nên những “ bi kịch” dở khóc dở cười này.



Mái nhà cao tầng - Tổ hợp nhà đa năng - Quận Tây Hồ - Hà Nội

Đối với nhà cao tầng, nhà siêu cao tầng có đặc trưng là hình khối phát triển theo chiều cao. Mặt bằng khối gọn (vuông tròn hay đa giác có các cạnh đều nhau). Nét đặc trưng của nhà cao tầng là phần khối kết thúc xem như là phần mái. Kiến trúc sư đã xử lý khối của các phần cao tầng phía trên tạo ra các cảm giác về mái.

ở một số công trình cao tầng, các nhà kiến trúc đã giải quyết cấu trúc không gian của các phần tầng trên để tạo ra cảm giác mái. Vì vậy “mái của nhà cao tầng đó” có khi cũng chiếm một phần khối tương đương với 3 - 4 tầng. Càng lên trên khối càng thu nhỏ dần để tạo ra “phần khối mái” hết sức độc đáo, có giá trị thẩm mỹ.

Với những công trình có không gian lớn, toàn bộ công trình có thể ẩn dưới một cái mái lớn. Xử lý hiệu quả nhất đối với loại mái này phải nhờ đến giải pháp khoa học và kỹ thuật hiện đại. Các công trình có mái lớn này thường là các trung tâm triển lãm, trung tâm thể dục thể thao, nhà thi đấu, cung thể thao, sân vận động…ở các công trình này, tùy thuộc vào bố cục mặt bằng và giải pháp kỹ thuật kết cấu mái, mái cũng có nhiều hình thức khác nhau: mái vòm vỏ mỏng; mái cong 2 chiều, mái dây cheo, mái dàn không gian v.v..

Mái nhà có vai trò quan trọng trong việc tạo nên tính thẩm mỹ của kiến trúc. Nó cũng là vấn đề cốt lõi của việc tạo hình dáng độc đáo cho công trình. Mái nhà Việt Nam cũng theo một lộ trình phát triển chung theo trào lưu quốc tế khi mà ngày nay với nền khoa học công nghệ vật liệu hiện đại chúng ta sẽ có nhiều những mái nhà độc đáo, hữu hiệu. Tuy nhiên với mỗi dân tộc đều có những kiểu mái đặc trưng riêng góp phần tạo nên bản sắc kiến trúc dân tộc. Hệ thống mái Đình làng, mái chồng Diêm (kiểu chùa Tây Phương - Hà Tây), mái “trùng thiềm điệp ốc” (cung điện Huế) v.v..là những mái nhà tiêu biểu của các loại hình kiến trúc truyền thống Việt Nam.

Trước xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa với nhiều vật liệu mái mới các công trình kiến trúc được kết thúc với các bộ mái muôn hình muôn vẻ. Thực tế việc chạy theo trào lưu dùng tôn (Ví dụ: cả thành phố hiện nay đều lợp tôn, coi là võ để sử dụng khi chưa có phương án cứu chữa chống thấm, giột cho mái bằng). Thì đây cũng là điều mà những kiến trúc sư chúng ta phải xem xét, tìm tòi. Nhà ở nông thôn Việt nam khắp 3 miền Bắc - Trung - Nam, từ đồng bằng đến miền núi hay vùng biển đang có nhiều thay đổi một cách tự phát thiếu định hướng. Việc người nông dân đồng bằng Bắc Bộ bỏ nhà mái ngói làm nhà mái bằng - điều này nên hay không? Tất cả những vấn đề trên đang rất cần sự quan tâm chỉ dẫn của các nhà thiết kế, các KTS và các kĩ sư xây dựng.


GS.TS.KTS.Nguyễn Bá Đang